Kênh thông tin mua bán, cho thuê nhà đất số 1

Hỗ trợ vay ngân hàngHỗ trợ vay ngân hàng

Quyền về tài sản sau khi đã mua nhà theo NĐ61

02/11/2010 08:38

Hỏi: Bố tôi thuê nhà của Nhà nước từ năm 1960 đến 1990, lúc đó gia đình tôi có 8 người đều có hộ khẩu cùng ở một nhà, sau đó anh em chúng tôi xây dựng gia đình ở riêng và chuyển hộ khẩu đi nơi khác.

Mẹ tôi chết, một chú em chuyển sang ở riêng ở phần đất lưu không và có hộ khẩu riêng. Còn lại vợ chồng tôi và một người chị vẫn ở lại phần nhà thuê, sau khi bố tôi mất. Nhà nước có chủ trương bán nhà theo NĐ 61 tôi đã bỏ tiền ra mua nhà, chị tôi cũng được mang tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất. Nay người em trai chồng tôi cho rằng phần nhà mà tôi mua theo NĐ 61 có phần tài sản thừa kế của chú ấy, chị chồng tôi tặng cho chúng tôi phần tài sản (quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà) có được không? Yêu cầu của người em tôi có đúng không?

Ngô Thị Hằng (Hoàng Mai)

- Trả lời:

Bố bạn là người thuê nhà của Nhà nước chứ không phải là tài sản riêng của bố, mẹ bạn vì vậy khi bố mẹ bạn chết đi hợp đồng thuê nhà không thể coi là tài sản thừa kế, bố bạn đứng tên hợp đồng ban đầu khi bố mẹ bạn chết đi thì những người thuê thực tế tiếp tục cử người ký tiếp hợp đồng với cơ quan quản lý nhà, ở đây anh em bạn đã chuyển đi nơi khác không còn nhu cầu thuê tiếp nữa mà chỉ còn có vợ chồng bạn và một người chị là còn ở lại nhà thuê và có nhu cầu thuê tiếp.

Bạn đã bỏ tiền ra mua nhà theo NĐ 61, căn cứ theo điều 2, điều 5 của NĐ 61 thì Nhà nước thực hiện bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê, ở đây đối tượng đang thuê được xác định trong hộ khẩu thực tế tại nơi ở đang thuê. Cơ quan Nhà nước đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà cho bạn và chị bạn, nay chị bạn đã làm thủ tục tặng cho bạn, tính từ thời điểm trong giấy chứng nhận đã được đính chính do người chị đã tặng cho thì nhà mua theo NĐ 61 là tài sản thuộc về bạn, người em không có quyền can thiệp vào tài sản của bạn.

Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất lại mang tên chồng bạn nhưng tài sản này được xác định là tài sản chung của vợ chồng bạn, nếu chồng bạn không chứng minh được là tài sản riêng của anh ấy, vì tài sản này được xác lập trong thời kỳ hôn nhân nên cho dù được ghi tên chồng bạn nó vẫn là tài sản chung của vợ chồng bạn (Điều 27 - Luật Hôn nhân và Gia đình).

Luật sư Trương văn An
Văn phòng LS Phúc Thọ
(Theo ANTĐ)


Xem thêm các tin khác